Lê Quốc Tuấn sinh ngày 12/3 âm lịch, đúng tiết Thanh Minh năm đó, tại Hà Nội, trong một gia đình mà cả cha và mẹ anh đều là giảng viên đại học ngành Ngôn ngữ Anh. Đều xuất thân từ gia đình nhà nông nhưng học giỏi, hai người được nhà nước chọn cử đi học tiếng Anh thông qua tiếng Nga trong 6 năm tại Liên Bang Xô-viết cũ, ở đây, họ yêu nhau, chọn công tác cùng một nơi khi trở về Việt Nam, và sinh con đầu lòng - là Tuấn.
Thuở thiếu thời của anh là những năm trước đổi mới, nhà giáo đói hơn nhà nông, người nông dân tuy lao động nặng nhọc nhưng ít ra còn gắn với cánh đồng, vườn cây, ao cá, còn cảnh đói của giới trí thức lúc ấy có những khi đến bữa chính nhà không có lấy một hạt gạo, lại vác ‘rá’ đi vay tạm hẹn trả nhanh hàng xóm một ‘bơ’ gạo nấu cơm cho con khỏi đói lòng.
Tuy nhiên, Tuấn lớn lên trong môi trường hết sức tích cực và đầy tình yêu thương. Cha và mẹ anh thường xuyên trao đổi với nhau hoàn toàn bằng tiếng Nga để giữ nghề, bố anh - dịch giả Lê Quốc Hạnh, say mê viết báo, dịch sách, truyện.
Yêu thương con, ông chọn lọc những truyện thiếu nhi quốc tế tâm đắc nhất, dịch nhuần nhị, gửi NXB Kim Đồng in và xuất bản, có thể kể đến các truyện về loài vật như ‘Lô Bô - Chúa Tể Vùng Ka Răm Pô’, ‘Chú thỏ đuôi bông’, ‘Chú gấu Mô-nớc’, truyện khoa học viễn tưởng ‘Con Rô Bốt Nổi Loạn’, ‘Bí Mật Lâu Đài Ơ-vê-lin’,…
Trong các bản thảo đã dịch nhưng chưa xuất bản của dịch giả Lê Quốc Hạnh còn có những truyện khoa học viễn tưởng có lẽ hơn buồn nhưng rất sâu xa và thấm thía như ‘Những Kẻ Chạy Trốn Thời Đại’ kể câu chuyện những người chọn ngủ đông để đi vào tương lai, hay ‘Người Không Ngủ’ kể về sự trắc trở và lo lắng của người vợ khi chồng mình tham gia vào nghiên cứu sản xuất một loại thuốc mới giúp con người ta không cần ngủ nữa, làm việc 24 tiếng mỗi ngày nếu muốn mà không mệt mỏi - trong câu chuyện này, người đọc cảm tưởng như Lê Quốc Hạnh tự thấy hình bóng của mình và đã chọn dịch tác phẩm đó như một lời thầm nhắn nhủ cho người vợ của mình: “Em cứ yên tâm - anh thức khuya dậy sớm vì gia đình, nhưng anh không bao giờ gục ngã”.
“Em cứ yên tâm - anh thức khuya dậy sớm vì gia đình, nhưng anh không bao giờ gục ngã.”
Và quả thật như vậy, xuyên suốt 4 thập kỷ làm việc và cống hiến không ngừng, dịch giả Lê Quốc Hạnh kinh qua nhiều chức vụ khác nhau, ngày càng quan trọng và luôn bận rộn, nhưng ông luôn giữ được sự tích cực, tính hài hước dí dỏm, ông không chỉ làm tốt vai trò của mình, mà còn dìu dắt rất nhiều học trò và đồng nghiệp trẻ ở các thế hệ sau vươn lên.
Tiếp xúc với tiếng Anh từ năm 3 tuổi, tương tác với người nước ngoài nói tiếng Anh từ rất sớm, sống cùng khu tập thể với hàng xóm là giáo viên dạy các ngoại ngữ khác nhau, môi trường thuận lợi, có lẽ hạt mầm của khiếu ngôn ngữ vừa có trong di truyền, vừa được gieo vào trong anh một cách tự nhiên qua giao tiếp hàng ngày.
Có lẽ nhờ thế, dù không dành thời gian nhiều cho học tiếng Anh hay bất kỳ ngoại ngữ nào khác, đến lúc cần phải ‘nước rút’, tức là ôn tập để thi vào Đại học, anh thọ giáo ôn tập tại nhà một người quen mà bố mẹ anh tin tưởng - cô Nguyễn Thị Vân, một trong những giáo viên chuyên luyện thi IELTS và TOEFL nổi tiếng và đông học trò theo học nhất thời ấy tại Hà Nội - như anh thường nhắc lại:
“Trước khi học bác Vân, tiếng Anh của mình còn rất yếu, sai be bét, chia thì quá khứ còn sai, số ít số nhiều lung tung hết thảy. Nhưng chỉ trong 6 tháng, nhờ được bác cho học chung với các anh chị ôn thi để du học, trình độ tiếng Anh của mình lên một mức khác hoàn toàn. Tất cả vốn tiếng Anh mà mình sử dụng mãi đến bây giờ đều từ bác Vân chỉ dạy mà có, mình chỉ học thêm từ vựng, thêm những cách diễn đạt mới mà thôi.”
Anh thi đỗ vào Đại học Ngoại Ngữ Hà Nội (Thanh Xuân) với 9.5 điểm Toán, 9.5 điểm tiếng Anh, là thủ khoa đầu vào của Khoa Anh, và là á khoa của toàn đợt thi ấy. Sau 4 năm học, anh tốt nghiệp loại giỏi, là một trong 2 thủ khoa (ngang bằng về điểm phẩy với nhau) của trường năm đó.
Anh và tất cả các thủ khoa các trường đại học trên địa bàn Hà Nội năm đó được UBND Thành phố Hà Nội tổ chức vinh danh, làm lễ trịnh trọng dâng lên tiền nhân ở Văn Miếu Quốc Tử Giám, in vào sách giữ và trưng bày trong khuôn viên Văn Miếu trong thời gian 1 năm. Chuỗi hoạt động này, tiếc thay, chỉ được duy trì cho 3 khoá (2003, 2004, và 2005) rồi dừng lại.
Tuấn được đặc cách giữ lại trường để giảng dạy, tuy nhiên anh của thời trẻ tâm niệm một cách rất ngây thơ và trong trẻo: “Mình ở lại trường dạy một thời gian là để ‘truyền ngọn lửa say mê học tập cho lứa sau lan truyền tiếp’, khi nào sinh viên của mình dạy sinh năm 1990 trở đi, tức là sang thế hệ 9x, là mình nghỉ.” - Sự thật thì những sinh viên cuối cùng mà anh dìu dắt tại trường sinh năm 1989.
Học trò nhớ và thường gọi bông đùa anh là Bomberman, vì thời ấy tư liệu học ngoại ngữ còn rất thiếu thốn, internet đã có nhưng chậm, yếu, và vô cùng đắt đỏ, hiểu rất rõ vai trò tối quan trọng của cuốn từ điển - công cụ tra cứu đắc lực nhất và duy nhất thời ấy khi học trên lớp, nhưng lại thấy học trò lười mang theo, do nặng, mỗi lần lên lớp, Tuấn chất đầy ba lô toàn từ điển, hai vai anh mỗi bên cũng vác một cuốn từ điển to và dày nhất.
Thói quen mang theo từ điển dày, nặng, nhưng chất lượng của anh đã có từ lúc còn đi học, bạn bè thường bảo ‘vác như vác hòm đạn’, trong giờ học, nếu thấy nội dung thầy cô đang truyền đạt mình đã lĩnh hội rồi, hiểu rồi, để tận dụng thời gian, anh giở từ điển ra đọc, lấy bút gạch chân, khoanh vùng, chú thích thêm, mấy cuốn từ điển anh ưu dùng nhất, theo thời gian, dần dần chi chít những vết đánh dấu và phụ chú.
Cũng lại ngây thơ, chẳng nghĩ ngợi xa xôi về danh lợi, nên khi được cho học Thạc sĩ ngôn ngữ mà không phải nộp tiền hay thi đầu vào, anh từ chối, bởi: “Kiến thức và nội dung ấy mình đã đọc rồi, biết rồi, thầy cô sẽ dạy cũng là những người mình đã từng học ở bậc đại học, nên tự thấy không có gì mới để học cả”. Một cơ hội thăng tiến và có cuộc sống an nhàn dễ dàng hơn lại trôi qua - anh không tiếc.
Mà quả thật anh chỉ chân thành chứ không hợm mình: bởi nhà anh rất nhiều luận văn thạc sĩ và cả một số luận văn tiến sĩ. Anh từng tò mò mở ra, đọc cả, xem cả - thời ấy tiến sĩ ở Việt Nam còn hiếm, phụ thân anh cũng chỉ học đến thạc sĩ mà thôi, nhưng được rất nhiều sinh viên và cả bạn bè học lên cao hơn gửi luận văn nhờ nhận xét, góp ý, chỉnh sửa hộ.
Tuy nhiên, có một cơ hội Tuấn không buông bỏ - suất đi học tiền thạc sĩ ngôn ngữ học tại New York, Hoa Kỳ. 6 tháng ở trời Tây này để lại cho anh rất nhiều ấn tượng sâu đậm và lượm lặt quý giá, không chỉ về chuyên môn, mà còn về văn hoá, cách nghĩ, những bài học trong cuộc sống, đặc biệt là chứng kiến sự vận hành của xã hội của một nước tân tiến và phát triển hàng đầu thế giới.
May mắn lớn của anh trong thời gian đó chính là được ở chung dưới một mái nhà với một gia đình mà người chồng là bác sĩ chuyên khoa thận và người vợ là tiến sĩ ngôn ngữ chọn giảng dạy cho người nhập cư yếu thế vào Mỹ là mục đích chính. Cả hai vợ chồng đều mang những suy nghĩ tiến bộ, nghĩ cho xã hội, mỗi bữa sáng đều là những cuộc thảo luận say sưa và nóng bỏng về tình hình xã hội Mỹ lúc đó, đặc biệt là khi thời điểm đó sát với cuộc bầu cử tổng thống Mỹ tiếp theo.
Đi du học theo diện ngoại giao, nên nếu muốn trở lại Mỹ học tiếp, Tuấn có thể trở lại ngay chứ không cần trở về Việt Nam trong ít nhất 2 năm như những người khác. Nhưng anh không quay lại Mỹ, anh nói với bạn bè:
“Một trong những cái mình thấm nhất khi tương tác với dân New York, dù nghèo hèn hay đã có vị thế, họ đều nói về ước mơ, họ luôn hỏi mình ‘thế ước mơ của mày là gì, tại sao mày lại có mặt ở đây’ - và mình nhận ra rằng học lên thạc sĩ, tiến sĩ nhanh nhất có thể, vào lúc đó, là mục tiêu của mình, nhưng lại không phải là điều mình mơ ước, nó chỉ là ‘vướng mắc’, là đã học thì học đến hết mức đi, rồi xếp lại. Chỉ bừng tỉnh thấy thế thôi, và chọn dừng lại, chứ còn thật sự muốn gì, trở thành người như thế nào - lúc ấy vẫn chưa biết đâu.”
Những người trẻ thường có hoài bão lớn, giàu lý tưởng, và nghĩ cho xã hội một cách tự nhiên, Tuấn không nằm ngoài số đó, thấy Bộ Giáo Dục và Đào Tạo tuyển vị trí Chuyên viên Hợp tác Quốc tế, anh đâm đơn ứng tuyển và được nhận. Thời gian anh công tác tại vị trí này tuy chỉ một năm ngắn ngủi, nhưng những cọ xát và cơ hội được đi Thái Lan, Indonesia, hay Singapore, vừa dẫn đoàn vừa học tập ‘ké’, anh thu lượm được nhiều điều quý giá.
Ngoài công việc chính thức, Tuấn làm thêm công việc biên dịch và phiên dịch từ năm thứ 3 đại học. Nhờ sự tin tưởng của bạn bè, anh đã có những cơ hội vô giá mà ít người may mắn có được dù chỉ một lần trong đời - như trực tiếp dịch cho nguyên Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, hay nhiều lần cùng họp và góp ý cho Đề Án Tiếng Anh của quốc gia cùng Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân.
Không thấy mình thích hợp với môi trường công chức nhà nước, nhưng vẫn mong mỏi dùng khả năng và sức lực của mình giúp Việt Nam tiến bộ lên, bến đỗ tiếp theo của Tuấn là ALMEC - một công ty Nhật Bản chuyên tư vấn quy hoạch đô thị cho các thành phố lớn ở Việt Nam, bao gồm cả Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trong giai đoạn làm việc tại đây, công ty anh tư vấn cho khá nhiều dự án lớn và quan trọng ở thời điểm đó, nhưng cao tốc Long Thành - Dầu Giây, sân bay Long Thành, đường sắt trên cao tại Hà Nội, v.v...
Tuy nhiên, Tuấn dần dần nhận ra mình không thích hợp với công việc thuần tuý chỉ biên dịch (dịch viết) - “Dịch viết cả ngày thì làm một lúc cũng say việc đấy, lúc đó cơ thể rơi vào trạng thái ‘tự động’, mình như biến thành cái máy chính xác và đều đặn, từ ngữ rồi cách diễn đạt cứ tự nạp vào một đầu rồi đẩy ra đầu kia thành ngôn ngữ khác mà cảm giác thì như chẳng hề phải nghĩ ngợi gì. Nhưng mà nó tẻ.”
Bến đỗ tiếp theo của Tuấn là đài VTV4 của Truyền hình Trung ương, nơi anh tiếp xúc và làm việc cùng với nhiều bạn trẻ giàu năng lượng và có trình độ ngoại ngữ tốt, để lại ấn tượng sâu đậm trong anh.
Tuy đồng nghiệp rất tương đồng và môi trường giàu năng lượng tích cực, mọi người thường xuyên dùng tiếng Anh giao tiếp với nhau, Tuấn lại quắt quay với câu hỏi ‘thực sự công việc mình đang làm có ý nghĩa gì không’? Nói một việc hoàn toàn vô nghĩa thì không đúng, dưới góc nhìn của mỗi người với một sự vật sự việc, sẽ có cách diễn giải khác nhau, nhưng với một người nhìn vào công việc của mình mà thực sự thấy nó không ý nghĩa, thì tiếp tục gắn bó là không nên.
Tuấn chuyển hướng tự mở lớp dạy tiếng Anh, học trò của anh giai đoạn này có hai đối tượng chính: những người cần chứng chỉ B1 hay B2, và các em nhỏ cần ôn thi đại học. Niềm vui và thành tựu nho nhỏ mà anh tự hào trong giai đoạn này là trong những người anh đã ôn B1 và B2 cho thì không ai trượt khi đi thi cả.
Đặc thù công việc cho anh 100% tự chủ về thời gian, đam mê về ngôn ngữ, văn hoá và sự tò mò về những đất nước khác trỗi dậy, anh dành gần như hoàn toàn thời gian rảnh rỗi cho việc đọc về những nền văn hoá và đất nước khác, anh cũng bắt đầu học đều đặn tiếng Nhật, và sau đó là tiếng Nga - hai ngôn ngữ mà anh tò mò nhất từ thiếu thời - và luôn có động lực cũng như mong ước tự thân để tìm hiểu thêm.
Tuy nhiên, tính cầu toàn và tâm niệm: “Giáo viên đứng lớp không bao giờ được sai, và phải chuẩn bị bài cẩn thận hết sức có thể.” làm cho thời gian mỗi ngày của anh dành cho sở thích riêng không có nhiều.
Đại dịch toàn cầu COVID ập tới, các lớp dạy lúc tổ chức được, lúc không, thời gian trống nhiều hơn, Tuấn thử cùng lúc học rất nhiều ngoại ngữ, anh đồng thời học tiếng Ả-rập, tiếng Trung, tiếng Pháp, Đức, Ý, Hàn, Tây Ban Nha, ôn lại tiếng Bồ Đào Nha, thử học tiếng Anh bằng chương trình soạn cho người Nhật, và tiếng Trung soạn cho người Nhật (chứ không phải người nói tiếng Anh, hay người Việt Nam).
Có thể trên thế giới này có những ‘quái kiệt’ có thể nói thông biết thạo nhiều thứ tiếng sau một thời gian ngắn, nếu tầm 2 năm là một thời gian có thể coi là ngắn để làm chủ khoảng 6-7 ngôn ngữ, thì Tuấn không nằm trong số đó. Đến thời điểm hiện tại, những gì anh đã học, như chúng ta thường nói, đã “rơi rụng”.
“Dù không thể giỏi được nhiều ngoại ngữ, mỗi người chúng ta nên làm chủ ở mức nào đó ít nhất 2 ngôn ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ... khi biết ít nhất 2 ngoại ngữ, với tổng hoà 3 ngôn ngữ mà mình biết, chúng ta sẽ tư duy đa chiều, có cái nhìn cân bằng và ôn hoà hơn.”
Anh thì không nghĩ vậy, đa phần những gì đã học vẫn còn đấy, ở sâu trong não, không ‘kích hoạt’ được lên và thực chiến được nhiều, nhưng vẫn có ý nghĩa cho tư duy, và quan trọng nhất, anh đúc kết rằng dù không thể giỏi được nhiều ngoại ngữ, mỗi người chúng ta nên làm chủ ở mức nào đó ít nhất 2 ngôn ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ, bởi biết 1 ngoại ngữ thôi, thì chúng ta dễ rơi vào suy nghĩ kiểu so sánh, đối chiếu, đúng sai, trắng đen, trái phải, còn khi biết ít nhất 2 ngoại ngữ, thì với tổng hoà 3 ngôn ngữ mà mình biết, chúng ta sẽ tư duy đa chiều, có cái nhìn cân bằng và ôn hoà hơn, với mọi thứ trong cuộc sống.
Thời COVID nhiều người không có việc, rồi những người bay nhảy nhiều, khi bị nhốt lại thì tù chân tù cẳng, rồi stress...
Tuấn có lẽ lại may mắn, anh có việc rất đều, thậm chí bận tối mặt tối mũi vì lượng việc về tới tấp! - Qua quan hệ cá nhân, anh được chọn đảm nhận dịch và đảm bảo tính chính xác của hồ sơ nghiên cứu của hai nghiên cứu lớn để sản xuất Vaccine trị COVID-19 cũng như nhiều nghiên cứu nhỏ hơn để phát triển những thuốc mới điều trị các bệnh hiếm gặp. Anh cũng trở lại vai trò phiên dịch trong các cuộc họp online đa phương để đảm bảo giao tiếp được thông suốt giữa các thành viên đến từ nhiều quốc gia khác nhau, đặc biệt là Nhật Bản và Ấn Độ.
Thành quả từ những nghiên cứu mà anh góp sức vào, đến nay, đã giúp một số thuốc và vaccine được lưu hành hay dùng tiêm phòng ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Đến nay Tuấn vẫn tiếp tục song hành với công ty đang mang những cơ hội quý báu ấy đến với mình - VietStar Biomedical Research. Ngoài công tác dịch thuật, gần đây, nhận thấy năng lực sẵn có của anh về công nghệ thông tin, công ty định hướng anh bắt đầu làm quen để hướng tới đảm nhiệm các công việc liên quan đến hạ tầng mạng, server, lưu trữ, VPN, phần mềm chuyên dụng, và quản lý dữ liệu công ty, cũng như phát triển những công cụ mới.
Để phục vụ mục đích này, và cũng để thoả sức tò mò và ước mơ từ thời thơ bé, Tuấn đang theo học trong hệ thống giáo dục FPT, hết năm 2026, anh sẽ chính thức tốt nghiệp và nhận bằng.
Trong quá trình học, anh luôn đứng trong Top 100 những sinh viên có kết quả học tập xuất sắc nhất và nhiều lần là ‘Ong Vàng’ của trường, tức sinh viên Top 1 của khối ngành CNTT. Chúng bạn cùng học với anh, những người trẻ hơn anh có khi đến 2 thập kỷ, quý mến anh bởi sự chân thành, những lời khuyên thật lòng, cách quan tâm và nghĩ cho người khác của một người anh đi trước, nhưng vẫn tếu táo, gần gũi, tự nhiên như ngang hàng, cùng trang lứa.
Việc học về một lĩnh vực khác, tưởng như chỉ để thoả chí để vẹn ước mơ thuở thiếu thời, giờ lại thành một chuyên môn mà anh hiểu đủ rõ. Tuấn lại vừa hoàn thành một khoá học về AI của Trung tâm Phát triển nhân tài công nghệ cao Samsung Innovation Campus (SIC), sắp tới, anh định học tiếp về Chip bán dẫn.
“Mình chưa phải là chuyên gia, nhưng kiến thức nền và vốn ngôn ngữ trau dồi suốt nhiều thập kỷ giúp mình hỗ trợ anh em được rất nhiều. Mỗi khi nhận thấy nhờ có mình trong tình huống đó, anh em hiểu thấu nhau, thông điệp được thông suốt, công việc giải quyết hiệu quả, mình thấy mình sống tốt và có ích.”
“Những ngày buồn đối với mình là ngày mà mình làm việc hùng hục từ sáng đến tối nhưng cuối ngày nhìn lại thì thấy vẫn ngổn ngang nhiều đầu việc chưa xong hoàn toàn. Thời gian bị phí hoài, sử dụng kém hiệu quả, là điều mình thấy đau đớn nhất. Những ngày dài mà hoá ra lại ngắn như tích tắc như thế làm mình trăn trở, trăn trở để làm sao tối ưu hoá tốt hơn nữa, sắp xếp luồng công việc chuẩn hơn nữa.”
Tấm bằng CNTT và những mối quan hệ mới lại đang đặt Tuấn trước một ngã rẽ lớn. Ra trường lần này, khi lại có thời gian biểu tự chủ hơn, anh sẽ chọn làm những gì - và làm gì trước - trong danh sách rất dài những việc mà anh muốn thấy được hoàn thành cho bản thân và cũng là cho xã hội? Khi mọi người hỏi, anh thường đùa:
“Miễn sao đến lúc ra đi rồi, nằm dưới mấy tấc đất, bộ xương không thi thoảng cứ lật đi lật lại chẳng được nằm yên ấy mà!”
Với anh: “Còn hoài bão là còn tuổi trẻ!”